I. Kết quả phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp giai đoạn 2016-2020
Theo Sở Công Thương Phú Thọ, thời gian qua, các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) trên địa bàn tỉnh đã mang lại hiệu quả rất lớn: góp phần tăng trưởng sản xuất công nghiệp, giải quyết vấn đề lao động, việc làm, cải thiện đời sống dân sinh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng công nghiệp hóa.
Đối với KCN, giá trị gia tăng của KCN đóng góp bình quân khoảng 13-14% vào cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Phú Thọ đồng thời đóng góp bình quân 53-55% GRDP ngành công nghiệp giai đoạn 2015-2020;
Đối với CCN, giá trị gia tăng tạo ra ước tính của các CCN đóng góp bình quân khoảng 2,5-3,0% vào cơ cấu GRDP tỉnh Phú Thọ đồng thời đóng góp bình quân 10-12% GRDP ngành công nghiệp giai đoạn 2015-2020.
Như vậy, tổng cộng các KCN, CCN đóng góp khoảng 16-17% GRDP toàn tỉnh và 64-66% GRDP ngành công nghiệp của tỉnh Phú Thọ; Đóng góp của các KCN vào ngân sách địa phương hiện chiếm trên 50% trong tổng thu ngân sách từ nguồn doanh nghiệp và cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Tỷ lệ này của các CCN ước tính khoảng 18-20%; Giải quyết việc làm cho trên 60 nghìn lao động (riêng KCN là khoảng 45 nghìn lao động) với thu nhập bình quân từ 6,5-6,8 triệu/người/tháng. Bên cạnh đó còn có một số lượng đáng kể lao động gián tiếp (dịch vụ ăn uống, buôn bán nhỏ…) phát triển ở khu vực xung quanh các KCN, CCN góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người dân địa phương. Tỷ lệ lấp đầy của các KCN ước đạt trên 70%, của các CCN ước đạt trên 54%.
Hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cấp nước, hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn; hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài các KCN, CCN tiếp tục được đầu tư hoàn thiện đồng bộ. Thông qua sự phát triển của các KCN, CCN, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật được hình thành, ngày càng hoàn chỉnh, đồng bộ và có chất lượng, tạo đà cho các ngành kinh tế khác phát triển, đặc biệt là hệ thống giao thông huyết mạch, mạng lưới điện, mạng lưới thông tin,… Công tác quản lý tài nguyên môi trường, quản lý doanh nghiệp, lao động, cải cách hành chính được quan tâm hơn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế do đầu tư hạ tầng vào các KCN, CCN còn phụ thuộc nhiều vào vốn ngân sách nhà nước, chưa thu hút được nhiều sự tham gia của các thành phần kinh tế khác. Thực trạng hạ tầng kỹ thuật của các KCN, CCN hiện nay vẫn chưa được xây dựng đồng bộ, nhiều nơi vẫn còn vướng công tác giải phóng mặt bằng.
Các KCN, CCN chưa thu hút được các dự án tầm cỡ, mang tính đột phá, có khả năng lan tỏa cả theo khía cạnh ngành và lãnh thổ. Phần lớn các dự án thu hút vào KCN, CCN có quy mô trung bình trở xuống vì thế khó kéo theo sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ, các cụm liên kết ngành, lãnh thổ trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, đây là tình trạng chung của nhiều địa phương ở nước ta trong vòng luẩn quẩn: khi công nghiệp hỗ trợ thiếu (hoặc yếu) và gặp nhiều trở ngại trong thu hút các nhà đầu tư lớn (hoặc không có nhu cầu) phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Các KCN, CCN chủ yếu phát triển theo mô hình đa ngành, chưa thực sự quan tâm đầu tư xử lý rứt điểm vấn đề về môi trường. Hầu hết các KCN, CCN chưa được đầu tư hoàn thiên hệ thống xử lý nước thải tập trung, mới có hệ thống thu gom nước mặt, nước thải sinh hoạt.
II. Mục tiêu phát triển các khu, cụm công nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021-2025
1. Mục tiêu chung
Phát triển các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021 - 2025 với quy mô phù hợp theo từng giai đoạn nhằm định hướng quỹ đất, phát triển hạ tầng cơ sở trọng điểm vào những khu vực có tiềm năng, đáp ứng nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất công nghiệp, thu hút đầu tư, khoa học công nghệ, giải quyết việc làm và bảo vệ môi trường; gắn sản xuất với thị trường, vùng nguyên liệu; Làm cơ sở để xây dựng, đề xuất các chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển KCN, CCN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.
- Đối với các KCN: Hình thành một số khu vực trọng điểm trong các KCN để phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ đóng góp trong chuỗi liên kết sản xuất và các ngành công nghiệp ưu tiên mang tính đột phá dọc các tuyến trục giao thông quan trọng kết nối với các cảng biển, sân bay và cửa khẩu; tập trung lấp đầy và rà soát lựa chọn các loại hình KCN thích hợp đối với các KCN đã xây dựng.
- Đối với các CCN: Phát triển các CCN gắn với công nghệ tiên tiến dựa trên các đặc trưng và thế mạnh của từng địa phương, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông nghiệp công nghệ cao đồng thời tạo hạt nhân thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở các địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa.
2. Mục tiêu cụ thể
Đối với khu công nghiệp: Đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án sản xuất, kinh doanh vào các KCN trên địa bàn, phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp trong các KCN đạt trên 60%. GRDP các KCN năm 2025 đạt khoảng 8,5 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), GRDP bình quân/1 ha đất thuê đạt trên 12 tỷ đồng.
- Suất đầu tư kết cấu hạ tầng KCN trung bình từ 5 - 8.5 tỷ đồng/ha.
- Số lao động làm việc trong các KCN khoảng từ 74,5-75 nghìn lao động.
Đối với cụm công nghiệp: Đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án sản xuất, kinh doanh vào các CCN trên địa bàn, phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp trong các CCN đạt trên 62%. GRDP các CCN năm 2025 đạt khoảng 5,5 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), GRDP bình quân/1 ha đất thuê đạt trên 10 tỷ đồng.
Suất đầu tư kết cấu hạ tầng CCN trung bình từ 6-8,5 tỷ đồng/ha. Số lao động làm việc trong các CCN khoảng từ 45-50 nghìn lao động.
III. Định hướng phát triển các khu, cụm công nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021 - 2025
1. Định hướng phân bố không gian
Phát triển các KCN, CCN của Tỉnh tập trung ở vùng “Công nghiệp động lực” gồm thị xã Phú Thọ và các huyện Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh và Tam Nông nhằm phát huy thế mạnh về vị trí địa lí và khả năng kết nối liên tỉnh thông qua 2 tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt và đường sông. Thị xã Phú Thọ là hạt nhân của tiểu vùng, ưu tiên thu hút đầu tư có chọn lọc, lựa chọn những ngành có công nghệ sạch, có giá trị gia tăng cao, có cam kết chuyển giao công nghệ, phát triển các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Ở các địa phương còn lại, các ngành công nghiệp có triển vọng thu hút là chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến nông, lâm sản, dệt may, da giày, điện tử,…
Phát triển các KCN, CCN tại vùng “Công nghiệp Tây Bắc” gồm các huyện Đoan Hùng, Hạ Hòa dựa trên lợi thế về giao thông tương đối thuận lợi (nhưng vị trí cách xa thủ đô Hà Nội và các cảng biển hơn so với vùng “Công nghiệp động lực”). Tại các địa bàn này hiện nay mới có các CCN đi vào hoạt động trong khi các KCN chưa được hình thành. Các ngành công nghiệp khuyến khích thu hút vào các KCN, CCN ở khu vực này bao gồm sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến chè, thức ăn gia súc, chế biến gỗ,...
Phát triển các KCN, CCN tại vùng “Công nghiệp Tây Nam” gồm các huyện Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn là địa bàn khó khăn trong phát triển công nghiệp nói chung và các KCN, CCN nói riêng do hạn chế về giao thông kết nối. Trong giai đoạn trước mắt cân ưu tiên phát triển hình thức CCN gắn với các hoạt động chế biến nông lâm sản, thực phẩm; sản xuất vật liệu xây dựng (gạch xây dựng các loại), cơ khí…
Khu vực thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và huyện Thanh Thủy hạn chế hình thành mới và phát triển các KCN, CCN do ưu tiên quỹ đất cho phát triển đô thị, du lịch và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
2. Định hướng phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo loại hình
Đối với khu công nghiệp:
Căn cứ vào xu thế phát triển sản xuất công nghiệp (yêu cầu về nhà xưởng, cơ cấu ngành nghề chuyên môn hóa,…); cách thức tổ chức, bố trí không gian trong KCN (quy mô diện tích, các bộ phận cấu thành,… nhằm tối ưu hiệu quả sử dụng đất, lao động, hạ tầng cơ sở…). Phát triển các KCN theo một số loại hình như sau: KCN - đô thị - dịch vụ, Khu chế xuất, KCN chuyên ngành, KCN hỗ trợ, KCN sinh thái (EIP), KCN ứng dụng công nghệ cao (HTPs).
- Ưu tiên tập trung phát triển loại hình KCN-đô thị-dịch vụ nhằm phát triển đồng thời công nghiệp gắn với thúc đẩy đô thị hóa, nâng cao mức sống của người dân; Cần rút kinh nghiệm từ những bài học của các KCN đi trước để có phương án xây dựng tối ưu, đảm bảo sự đồng bộ của KCN tính cả hiện tại và dự báo tương lai phát triển.
- Quy hoạch một số KCN thành KCN tổng hợp như KCN Phú Hà, KCN Cẩm Khê, KCN Trung Hà nhằm thu hút các dự án đầu tư của các công ty đa quốc gia châu Âu, châu Mỹ. Quy hoạch thêm một hoặc hai KCN phụ trợ chuyên cung cấp nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm,... như KCN trên địa bàn các huyện Đoan Hùng, Phù Ninh,... nhằm tạo điều kiện nâng cao đời sống của người dân địa phương, tăng thu ngân sách địa phương, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn,…;
Đối với cụm công nghiệp:
Căn cứ vào xu thế phát triển sản xuất công nghiệp, Quy hoạch phát triển các CCN với quy mô phù hợp theo từng giai đoạn nhằm định hướng quỹ đất, phát triển hạ tầng cơ sở trọng điểm vào những khu vực có tiềm năng, đáp ứng nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất công nghiệp, thu hút đầu tư, khoa học công nghệ, giải quyết việc làm và bảo vệ môi trường; gắn sản xuất với thị trường, vùng nguyên liệu; Làm cơ sở để xây dựng, đề xuất các chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển các CCN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030.
- Phát triển các CCN gắn với công nghệ tiên tiến dựa trên các đặc trưng và thế mạnh của từng địa phương, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp đồng thời tạo hạt nhân thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở các địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa.
- Duy trì mô hình phát triển như hiện nay song dần nâng cao tỷ lệ diện tích xanh gắn với nâng cao hệ số sử dụng theo chiều cao không gian (nhà xưởng từ 2 tầng trở lên) nhằm khai thác tối đa hiệu quả sử dụng mặt bằng đồng thời bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với 1 số CCN phân bố ở gần khu đông dân cư.
Để thực hiện hóa kế hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số nhóm giải pháp về thu hút vốn đầu tư, huy động vốn đầu tư hạ tầng cơ sở cho các khu, cụm công nghiệp, chính sách phát triển nguồn nhân lực và chính sách hỗ trợ phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp./.
Đỗ Thị Bích Thủy
Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT