Sản xuất công nghiệp:
Theo Báo cáo của Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 giảm ở cả 2 gốc so sánh tháng trước và cùng kỳ năm trước lần lượt là -1,11% và -0,95%, kéo IIP 10 tháng năm 2022 xuống còn tăng 10,27% (9 tháng năm 2022 tăng 11,75%). Nguyên nhân đáng kể do các doanh nghiệp lớn trong ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học - ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất chủ yếu tập trung vào những sản phẩm truyền thống, giảm sản lượng sản phẩm giá trị cao để đảm bảo quyền lợi về giá và chất lượng cho các sản phẩm ở phân khúc thị trường cao cấp. Hiện nay, do những bất ổn về chính trị làm biến động giá nguyên, nhiên liệu nhập khẩu, làm khan hiếm nguồn cung khiến nhiều ngành sản xuất, chế biến, chế tạo gặp nhiều khó khăn. Giá cả leo thang, làm chậm thời gian giao và nhận hàng, gây áp lực nên hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Tháng 10, IIP là tháng thứ 2 liên tiếp bị giảm ở cả hai gốc so sánh (tháng 9/2022 chỉ số sản xuất công nghiệp của địa phương đã giảm 5,84% so với tháng trước) cho thấy xu hướng sản xuất công nghiệp các tháng cuối năm chững lại, nhờ dịch bệnh được kiểm soát tốt nên quý III năm 2021 sản xuất công nghiệp tỉnh các tháng cùng kỳ năm trước đạt rất cao. Do đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, so với tháng trước và cùng tháng năm trước lần lượt giảm là 1,1% và 1,05%. Nhưng trong các nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo: Có trên 60% số sản phẩm đạt mức tăng cao, trong đó có 50% số sản phẩm chủ lực của tỉnh đạt được mức tăng trong tháng 10 là: Điện thoại di động thường tăng 19,1%; linh kiện điện tử tăng 18,7%; Máy in coppy tăng 32,3%; dược phẩm có chứa vitamin A tăng 36,3%; vải tuyn tăng 12,9%; bình đun nước nóng tăng 32,5%; bê tông trộn sẵn tăng 27,6%. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,84%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,27%. Bên cạnh đó, còn có một số ngành đạt chỉ số sản xuất đặc biệt tăng cao là: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,6%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 22,68%, sản xuất thiết bị điện tăng 43,67%, sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 18,05%, sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm thuốc lá cũng lần lượt tăng 12,75% và 10,85% so với cùng kỳ năm 2021.
Ở chiều ngược lại, sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh vẫn có những ngành có chỉ số sản xuất giảm, trong đó giảm nhiều nhất là: Sản xuất trang phục 41,01%; ngành sản xuất đồ uống 26,79% và ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 5,7%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 44,53 so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên nếu tính chung 10 tháng cả năm 2022, chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh vẫn tăng 10,27% so với cùng kỳ năm 2021. Nhìn chung các doanh nghiệp công nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì được sản xuất ổn định. Các ngành công nghiệp cấp 2 trong tỉnh gần như phục hồi và hầu hết giữ ổn định duy trì tăng trưởng. Các sản phẩm chủ lực của tỉnh như điện thoại, đồng hồ thông minh, máy vi tính và linh kiện điện tử ngày càng đa dạng hóa về mẫu mã, sản phẩm đáp ứng đúng theo nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đạt được nhiều kết quả khởi sắc nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, chi phí logistics tăng cao làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh; xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, sức mua của các thị trường nước ngoài giảm mạnh; dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến khó lường;…Vì vậy rất cần những chính sách hỗ trợ phù hợp từ các cấp, các ngành địa phương cũng như sự nỗ lực của các doanh nghiệp trên địa bàn để doanh nghiệp tiếp tục giữ vững sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới.
Thương mại - dịch vụ:
Tháng 10, thị trường hàng hóa trong tỉnh diễn ra khá sôi động do thời tiết chuyển rét người dân mua sắm các mặt hàng chống rét. Nhờ đó, hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng phục hồi ở tất cả các ngành và ghi nhận mức tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 7.336,0 tỷ đồng, tăng 30,8% so với tháng cùng kỳ năm trước.
Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 69.104 tỷ đồng, tăng 39,1%. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 54.417 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng nhiều nhất 78,7% trong tổng mức, tăng 41,5%; tiếp đến là doanh thu các ngành dịch vụ đạt 9.015 tỷ đồng, chiếm 13,1%, tăng 31,6%. Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 10 tháng năm 2022 có quy mô và tốc độ tăng cao hơn so với cùng kỳ nhiều năm trở lại đây và tăng cao hơn so với thời điểm trước dịch bệnh .
Nhìn chung, trên địa bàn tỉnh, nguồn cung hàng hóa dồi dào, ổn định, bảo đảm nhu cầu tiêu dùng của người dân. Các siêu thị, chợ truyền thống hoạt động sôi động, nhà phân phối sẵn sàng cung ứng đầy đủ các chủng loại hàng hóa cung cấp cho nhu cầu của người tiêu dùng. Giá xăng dầu không có biến động lớn đã phần nào tác động tích cực đến giá cả hàng hóa nói chung, kích thích tiêu dùng trở lại. Bên cạnh đó, việc làm và thu nhập của người dân tăng lên, làm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa không thiết yếu gia tăng đã góp phần tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đây là tín hiệu khả quan hỗ trợ cho sự phục hồi sản xuất kinh doanh.
Phương hướng, nhiệm vụ những tháng cuối năm 2022:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình sản xuất công nghiệp của Bắc Ninh vẫn còn có những khó khăn, thách thức và những hạn chế, bật cập như: Tình hình thế giới còn diễn biến phức tạp, sức ép lạm phát cao; Thu hút FDI chưa được như kỳ vọng. Hoạt động kinh doanh một số lĩnh vực còn khó khăn, số doanh nghiệp rút lui và giải thể còn tăng cao so với cùng kỳ. Tốc độ phục hồi sản xuất công nghiệp có xu hướng chậm lại; Dịch Covid-19 vẫn tồn tại với sự xuất hiện của biến thể mới, nguy cơ bùng phát dịch cúm A, sốt xuất huyết, đậu mùa khỉ… Do đó, những tháng còn lại của năm 2022, thách thức nhiều hơn là cơ hội và thuận lợi, do đó tỉnh Bắc Ninh cần phải tiếp tục tổ chức thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các chương trình, kế hoạch đã xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các chủ trương, đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; nắm bắt kịp thời tình hình, có giải pháp ứng phó hiệu quả với những diễn biến mới. Cần tiếp tục đẩy nhanh lộ trình đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao hiệu quả hoạt động để phát huy nguồn lực của doanh nghiệp Nhà nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số, chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo. Tập trung tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh sản xuất công nghiệp. Phối hợp với các đơn vị liên quan hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn cung nguyên vật liệu thay thế với giá cả phù hợp để đảm bảo đủ nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng ... Cùng với đó, tỉnh cần có giải pháp và triển khai thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận kênh thông tin về xuất, nhập khẩu nhằm tìm kiếm thị trường mới nhập khẩu nguyên, vật liệu đầu vào. Tránh phụ thuộc vào một thị trường để tiêu thụ sản phẩm đảm bảo ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động thương mại điển tử, kinh tế số, kinh tế chia sẻ. Bên cạnh đó, bản thân doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng cần cải thiện mô hình kinh doanh, tái sắp xếp lại chuỗi cung ứng đầu vào để tận dụng triệt để ưu đãi thuế quan từ các FTA và thâm nhập vào thị trường mới./.
Đinh Thị Bích Liên
Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT