BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG

Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công Thương khảo sát thực hiện nhiệm vụ: “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy kết nối mạng lưới phân phối nội địa và xuất khẩu gắn với hoạt động xúc tiến đầu tư và đổi mới công nghệ cho các mặt hàng công nghiệp nền tảng của Việt Nam”

13/07/2023

Triển khai thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy kết nối mạng lưới phân phối nội địa và xuất khẩu gắn với hoạt động xúc tiến đầu tư và đổi mới công nghệ cho các mặt hàng công nghiệp nền tảng của Việt Nam theo Quyết định số: 21/QĐ-CLCT ngày 09 tháng 03 năm 2023 của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công Thương về việc giao chủ nhiệm và phân công các thành viên thực hiện nhiệm vụ, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đã thành lập đoàn công tác khảo sát, trao đổi và làm việc với Sở Công Thương, các doanh nghiệp liên quan trên địa bàn các tỉnh Phú Thọ và Lào Cai từ ngày 04/7 - 07/7/2023.

Đoàn công tác do ThS. Hoàng Thị Hương Lan, Nghiên cứu viên chính Phòng Nghiên cứu và dự báo thị trường, Chủ nhiệm nhiệm vụ làm trưởng đoàn. Nội dung làm việc với các tỉnh nhằm thu thập số liệu về thực trạng đẩy kết nối mạng lưới phân phối nội địa và xuất khẩu gắn với hoạt động xúc tiến đầu tư và đổi mới công nghệ cho các mặt hàng công nghiệp nền tảng của Việt Nam.

Quá trình làm việc và khảo sát, Đoàn đã thu được một số kết quả như sau:

Thống kê cho thấy, trong số 11 nhóm ngành Công nghiệp ưu tiên phát triển giai đoạn 2011 - 2020 thì đến nay 6/11 ngành hiện là các ngành công nghiệp đứng đầu cả nước, có đóng góp lớn cả về sản xuất, xuất khẩu, đầu tư và việc làm gồm: (1) Dệt may; (2) Da giầy; (3) Thực phẩm chế biến; (4) Thép; (5) Hóa chất; (6) Nhựa. Đặc biệt, một số ngành công nghiệp xuất khẩu (dệt may, da dày, điện tử…) đã cơ bản hội nhập thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao và chiếm thị phần ngày càng lớn trên thị trường quốc tế. Công nghiệp hỗ trợ, sản xuất linh kiện, cụm linh kiện đã dần được hình thành, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong các ngành công nghiệp, thúc đẩy một số mặt hàng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị, phân phối toàn cầu. Đáng chú ý, đến 2020, công nghiệp vẫn là ngành thu hút đầu tư FDI lớn nhất với tốc độ tăng trưởng cao (tăng gần 2 lần cả về quy mô và tỷ trọng trong 10 năm qua), đặc biệt là trong công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm hơn 60% vốn đầu tư vào các ngành và khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) với một số dự án đầu tư lớn của các tập đoàn công nghệ toàn cầu đã tạo động lực tăng trưởng mới cho ngành trong bối cảnh một số ngành công nghiệp lớn đã chạm trần tăng trưởng (dệt may, da dày, khai khoáng…) và góp phần hình thành nên các trung tâm công nghiệp mới của đất nước.

- Quy mô sản xuất công nghiệp liên tục được mở rộng. Hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển, góp phần thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển sản xuất công nghiệp, nhất là các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, có giá trị gia tăng cao. 

- Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu hơn với xu hướng chuyển dịch khá rõ và rất tích cực theo đúng định hướng tái cơ cấu ngành. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo phát triển tích cực phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành, các ngành công nghiệp chủ lực (như điện tử, dệt may, da giày...) tăng trưởng ở mức cao, là yếu tố chính đóng góp vào phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, nâng thứ hạng về năng lực cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam.

- Công nghiệp hỗ trợ được quan tâm, thúc đẩy tăng cường liên kết, nâng cao sự vững chắc trong chuỗi cung ứng cho những ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, điện tử, công nghiệp chế biến nông sản… Bước đầu hình thành hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa; cơ cấu sản phẩm có sự dịch chuyển tích cực khi tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao và vừa của Việt Nam đã tăng lên đáng kể, tạo cơ sở hình thành một số tập đoàn công nghiệp tư nhân có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, điển hình là công nghiệp ô tô Việt Nam, lần đầu tiên khẳng định sự tự chủ trong đầu tư, sản xuất, làm chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. 

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực thời gian qua, có thể dễ dàng nhận thấy, thực tế kết nối MLPP nội địa và xuất khẩu hàng CNNT còn bộc lộ hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống.

Trước tiên, xét về tính tổ chức thì mức độ liên kết giữa các nhà sản xuất, doanh nghiệp phân phối, hệ thống đại lý còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, quy mô phân phối nhỏ, nhiều khâu nấc, dẫn đến chi phí lưu thông lớn, làm tăng giá, giảm sức cạnh tranh và tác động tiêu cực tới liên kết trong hoạt động phân phối hàng CNNT trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

Thứ hai, sự phát triển của mạng lưới phân phối trong nước và xuất khẩu  vẫn chủ yếu theo chiều rộng, thiếu sự phát triển theo chiều sâu, thiếu sự liên kết, hợp tác chặt chẽ, ổn định, bền vững theo chuỗi giá trị/chuỗi cung ứng nên rất khó tham gia sâu trong các chuỗi giá trị toàn cầu để nâng cao giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho các mặt hàng CNNT.

Thứ ba, công tác tổ chức, phát triển và quản lý nhà nước đối với hệ thống phân phối trong nước và xuất khẩu hàng hóa nói chung và nhất là đối với CNNT còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, chưa khuyến khích thúc đẩy sự kết nối, liên kết MLPP thực chất và hiệu quả.

Thông qua trao đổi với các Sở Công Thương, Đoàn công tác đã nắm bắt tình hình phát triển thị trường bán lẻ của địa phương, thế mạnh và các vấn đề còn tồn tại; đề xuất, kiến nghị của Sở Công Thương và ghi nhận một số khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn để từ đó làm cơ sở xây dựng đề án “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy kết nối mạng lưới phân phối nội địa và xuất khẩu gắn với hoạt động xúc tiến đầu tư và đổi mới công nghệ cho các mặt hàng công nghiệp nền tảng của Việt Nam”.

Một số hình ảnh chuyến công tác:

Trần Thị Thúy Hằng

Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại - VIOIT