BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG

Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2022

30/08/2022

Tình hình chung

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 8 năm 2022 ước đạt 4,38 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2022 đạt 36,27 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản ước đạt 14,96 tỷ USD, tăng 7,4%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ước đạt 258,6 triệu USD, giảm 12,2%; giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 7,54 tỷ USD, tăng 35,3%; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản ước đạt 11,84 tỷ USD, tăng 6,2%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất ước đạt 1,67 tỷ USD, tăng 48,2%; giá trị xuất khẩu muối ước đạt 3,5 triệu USD, tăng 79,3%.

Ước tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đầu năm 2022 của Việt Nam tới các thị trường thuộc khu vực châu Á đạt 15,62 tỷ USD, tăng 15,7%; châu Mỹ đạt 10,48 tỷ USD, tăng 6,4%; châu Âu đạt 4,27 tỷ USD, tăng 17,7%; châu Đại Dương đạt 623 triệu USD, tăng 27,6%; châu Phi đạt 572 triệu USD, giảm 4,1%. Thị phần của các khu vực Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Đại Dương và Châu Phi trong tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2022 lần lượt là: 43,1%; 28,9%; 11,8%; 1,7% và 1,6%1.

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng 26,4%, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2021; Trung Quốc chiếm 17,8% (+5,7%) và Nhật Bản chiếm 7,4% (+22,6%).

Xuất khẩu một số mặt hàng chính như sau:

- Cà phê: Xuất khẩu cà phê tháng 8 năm 2022 ước đạt 110 nghìn tấn với giá trị đạt 257 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm 2022 đạt 1,24 triệu tấn và 2,82 tỷ USD, tăng 15,3% về khối lượng và tăng 40,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 2.268 USD/tấn, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 7 tháng đầu năm 2022, Đức, Bỉ, và Italia 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt là 12,4%, 8,0% và 7,1%. Thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê tăng mạnh nhất là Hà Lan (gấp 3,9 lần), Ngược lại, thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê giảm mạnh nhất là thị trường Malaysia (-8,5%).

- Cao su: Ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 8 năm 2022 đạt 210 nghìn tấn với giá trị đạt 320 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 8 tháng đầu năm 2022 đạt 1,19 triệu tấn và 2 tỷ USD, tăng 7,8% về khối lượng và tăng 8,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá cao su xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1.676 USD/tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 7 tháng đầu năm 2022, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 66,6%, 7,7% và 2,7%. Giá trị xuất khẩu cao su tăng mạnh nhất tại thị trường Inđônêxia với mức tăng 60,3% so với cùng kỳ năm 2021. Ngược lại, thị trường có giá trị xuất khẩu cao su giảm mạnh nhất là Tây Ban Nha (-27,3%).

- Chè: Khối lượng xuất khẩu chè tháng 8 năm 2022 ước đạt 12 nghìn tấn với giá trị đạt 21 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu chè 8 tháng đầu năm 2022 đạt 78 nghìn tấn và 135 triệu USD, giảm 2,2% về khối lượng nhưng tăng 1,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá chè xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1.728 USD/tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 7 tháng đầu năm 2022, khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan – thị trường lớn nhất của Việt Nam với 43,6% thị phần, tăng 21,9% về khối lượng và tăng 17,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

- Gạo: Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8 năm 2022 ước đạt 650 nghìn tấn với giá trị đạt 309 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm 2022 đạt lần lượt 4,73 triệu tấn và 2,3 tỷ USD, tăng 18,6% về khối lượng và tăng 8,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá gạo xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 487 USD/tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 7 tháng đầu năm 2022, Philippin là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với 46,4% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này đạt tổng cộng 1,98 triệu tấn và 924,9 triệu USD, tăng 56,9% về khối lượng và tăng 39,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất là Hoa Kỳ (+67,6%). Ngược lại, thị trường có giá trị xuất khẩu gạo giảm mạnh nhất là Gana (-48,9%).

- Rau quả: Giá trị xuất khẩu rau quả tháng 8 năm 2022 ước đạt 243 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau quả 8 tháng đầu năm 2022 đạt 2,17 tỷ USD, giảm 13,9% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 7 tháng đầu năm 2022, Trung Quốc đứng vị trí thứ nhất về giá trị nhập khẩu rau quả của Việt Nam với 45,5% thị phần, giá trị xuất khẩu đạt 877,6 triệu USD, giảm 34% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường có giá trị xuất khẩu rau quả tăng mạnh nhất là Lào (+96,6%). Ngược lại, thị trường có giá trị xuất khẩu rau quả giảm mạnh nhất là Nga (-35,7%).

- Hạt điều: Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 8 năm 2022 ước đạt 48 nghìn tấn với giá trị 280 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 8 tháng đầu năm 2022 đạt 343 nghìn tấn và 2,05 tỷ USD, giảm 8,7% về khối lượng và giảm 11,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 5.972 USD/tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm 2021.

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm thị phần lần lượt là 28,9%, 12,8% và 9,5% tổng giá trị xuất khẩu hạt điều. Trong 7 tháng đầu năm 2022, giá trị xuất khẩu điều tăng mạnh nhất tại thị trường TVQ Arập Thống Nhất (+53,6). Ngược lại, thị trường có giá trị xuất khẩu điều giảm mạnh nhất là Canada (-38,9%).

- Hạt tiêu: Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 8 năm 2022 ước đạt 18 nghìn tấn, với giá trị đạt 72 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 8 tháng đầu năm 2022 đạt 161 nghìn tấn và 712 triệu USD, giảm 18,8% về khối lượng nhưng tăng 8,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 4.434 USD/tấn, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2021. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2022 là Hoa Kỳ, TVQ Arập Thống Nhất và Ấn Độ với 42% thị phần.

Thị trường có giá trị xuất khẩu tiêu tăng mạnh nhất là Nhật Bản (tăng 2,04 lần); thị trường giảm mạnh nhất là Pakixtan (-51,5%).

- Sắn và các sản phẩm từ sắn: Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 8 năm 2022 ước đạt 210 nghìn tấn với giá trị đạt 99 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 2,14 triệu tấn và 941 triệu USD, tăng 9,3% về khối lượng và tăng 22,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

Giá xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn bình quân 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 441 USD/tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 7 tháng đầu năm 2022, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn lớn nhất của Việt Nam, chiếm 91,3% thị phần, tăng 6,7% về khối lượng và tăng 20,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

- Sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2022 ước đạt 41,6 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2022 ước đạt 258,6 triệu USD, giảm 12,2% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 73,8 triệu USD, giảm 4,3%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 70,8 triệu USD, tăng 4,9%.

- Thuỷ sản: Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 8 năm 2022 ước đạt 894 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2022 đạt 7,54 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2021.

Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Trung Quốc là 3 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2022, chiếm 50,5% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Trong 7 tháng đầu năm 2022, giá trị xuất khẩu thủy sản tăng tại hầu hết cả các thị trường, ngoại trừ thị trường Anh (-4,7%). Thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh nhất là Trung Quốc (+80,4%).

- Gỗ và sản phẩm gỗ: Ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 8 năm 2022 đạt 1,35 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 8 tháng đầu năm 2022 đạt 11,07 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2021.

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản - 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2022 - chiếm 79,7% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng mạnh nhất tại thị trường Malaysia (+38%); giảm mạnh nhất tại thị trường Anh (-13,8%).

Trương Thị Quỳnh Vân

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT